Thần thông trong đạo Phật - Pháp âm Thích Phước Tiến.
Quý chào tất cả vị thiện nam thiện nữ hữu duyên đọc qua bài viết này, hãy cùng nhau chiêm nghiệm và chia sẻ nếu bạn cảm thấy hay ho nhé bằng hữu.
Người ta nói: "Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ", dù bạn và tôi chưa từng gặp gỡ quen biết, mỗi người ở mỗi nơi của quả địa cầu, khi bạn đã đọc đến bài viết này chúng ta đã có duyên rất lớn. Hôm nay được hữu duyên gửi đến bạn bài viết về "Thần thông trong đạo Phật" - khái niệm của phật giáo nguyên thuỷ.
Kính thưa bạn, bài giảng này rất gần gũi với ta nhưng có điều chúng ta chưa hình dung ra, nó nằm trong kinh điển nhà Phật từ nghìn năm nay. Phép thần thông là điều mà ta thường gặp nhưng không nhận ra, có những lúc ta nghi ngờ không tin, không tin thì sợ tội, còn tin thì sợ mê tín.
Có những điều ta cần bàn về ý nghĩa, giá trị mà những khái niệm trong Phật giáo mang lại, thần thông này có từ rất lâu rồi mà ta có thể thấy trong cách điển tích lịch sử trong quá trình hình thành của nước Việt Nam. Những truyền thuyết từ xưa như Âu Cơ và Lạc Long Quân, Thánh Gióng... ta xem nó như tác phẩm của trí tưởng tượng con người, những điều ấy cũng đã qua lịch sử, ghi chép quá lâu nên ta không rõ thực hư là thật hay ảo. Liệu có nên tin hay không tin những điều ấy, ta hãy dùng tư duy và trí tuệ để xem xét rõ.
Dù cho những truyện truyền thuyết trên là thật hay ảo, thì nếu nói theo quan điểm của Phật giáo thì các pháp thần thông là có thật. Bất cứ tư tưởng của tôn giáo nào cũng đều nói đến những năng lực này, bởi lẽ nó vốn tồn tại trong tất cả các nền văn hoá sơ khai từ cổ chí kim đến nay và được ghi chép trong nhiều nền văn minh cổ đại
Trước tiên bạn cần hiểu "thần thông" nghĩa là gì? Chữ thần ở đây nghĩa là một điều gì đó không tầm thường, thần kỳ, còn thông nghĩa là thông đạt, vô ngại, ví như một bức tường chắn được ánh sáng nhưng khi trên tường có một lỗ nhỏ thì lập tức ánh sáng lọt qua khe liền, không còn bị ngăn chặn nữa, ta nói ánh sáng được thông, chữ thông được ví như vậy. Vậy "thần thông" nghĩa là một điều gì đó phi thường, cao siêu mà vô ngại, thông suốt không thể cản trở.
Thật ra những điều này vốn có sẵn trong mỗi chúng ta, chúng vốn là tự tánh hay nói cách khác là bản năng của con người, tuy nhiên ta chưa phát hiện ra và chưa phát huy hết năng lực của mình. Những khả năng siêu phàm này có mặt trong tất cả chúng ta và khả năng thần đồng này vốn đã bị những phiền não của một quá trình học tập trong cuộc sống này che đi mất. Có những người khi còn nhỏ có những khả năng rất đặc biết như thấu thị, có thể nhìn xa vài cây số mà vẫn thấy rõ, nhưng khi lớn dần lên bị ảnh hưởng bởi cuộc sống này, ảnh hưởng bởi thế giới vật chất này mà năng lực đó dần mất đi.
Những nhà khoa học đo điện não đồ (EEG) đã thiết lập nhiều cuộc thí nghiệm thì cho biết con người sống cả một cuộc đời chỉ sử dụng tối đa 1 phần hàng triệu tế bào não mà thôi, tức là còn tới hàng triệu tế bào não ta chưa sử dụng đến. Nhiều cuộc thí nghiệm đã nổ ra tại đại học Stanford - là một trong những trường đại học đứng top đầu thế giới về khoa học. Năm 2004, nhà thần kinh học Richard Davidson đã tiến hành nghiên cứu năng lượng mà các thiền sư Tây tạng toả ra khi thiền định.
Davidson dùng điện não đồ (EEG) và quét não bộ để đo lường tia gam-ma phát ra từ đại não các lạt ma. Ngoài ra, một nhóm 10 học sinh không có kinh nghiệm tu luyện và đả tọa đã được huấn luyện ngồi thiền trong vòng một tuần, sau đó được tiến hành trắc nghiệm tương tự.
Tia gam-ma là một loại sóng điện não “tần số cao nhất, trọng yếu nhất”, sự sản sinh tia gam-ma đòi hỏi hàng nghìn vạn tế bào thần kinh đồng thời vận tác ở tốc độ cực đại.
Davidson phát hiện thấy hoạt động tia gam-ma của một số lạt-ma có biên độ vượt xa bất kỳ văn kiện ghi chép nào trong lịch sử. So với các tình nguyện viên không tu luyện, tia gam-ma các lạt-ma phát xuất ra có tính tổ chức cao hơn hẳn, cao hơn 100 thậm chí 1000 lần.
Theo các nhà vật lý lượng tử, các nguyên tử vật chất được tạo ra bởi đám xoáy năng lượng quay và rung động vĩnh viễn. Ý thức con người có thể kết nối với vật chất ở mức rất vi quan, tác động đến hành vi, thậm chí cấu trúc lại chúng.
Vì thế những hạt năng lượng khi chịu sự chi phối bởi ý niệm người tu hành đắc đạo hoàn toàn có thể cải biến thế giới vật chất. Năng lượng người tu luyện ở tầng thứ càng cao phát xuất ra năng lượng càng lớn và và mức độ cải biến vật chất cũng càng mạnh mẽ. Đó chính là “công năng đặc dị” mà chúng ta biết hiện nay hay “thần thông” như cách người xưa vẫn gọi.
Một vị có khả năng đi trên mặt biển mà không bị chìm, thật ra dùng kiến thức trong kinh Phật giải thích rất rõ ràng, vị này khi đã thành thục "Tứ niệm xứ" khi thấy mặt nước quán chiếu đấy là mặt đất đến độ thuần thục, nhất tâm bất loạn thì người này đi trên mặt nước như đi trên mặt đất mà không chìm xuống. Khả năng này bất cứ ai nếu nhất tâm tu luyện cũng đều đạt được, thế nhưng không nên mong cầu chúng vì như vậy sẽ rất nguy hiểm và cản trở quá trình tu tập.
Thời đức Phật thích ca mâu ni còn trụ thế, cả ngài và chúng để tử, hàng trăm vị khi đã đắc quả vị A la hán thì đều có tới "lục thông thanh tịnh" tức là "Thiên nhãn thông", "thiên nhĩ thông", "tha tâm thông", "túc mạng thông", "thần túc thông" và "lậu tận thông". Ngoài các ngài ra thì những người chưa đắc tới A la hán quả cũng có khả năng đắc tới ngũ thông là 5 thông ngoại trừ "lậu tận thông" chỉ có nơi vị A la hán.
Thiên nhãn thông là cái thấy biết, công dụng của cái thấy biết, cái thấy này xa vạn dặm, là cái hiệu dụng của bản thể, còn được biết đến là con mắt thứ 3 hay giác quan thứ 6.
Thiên nhĩ thông là cái nghe được ngàn dặm, cái nghe được âm thanh nhiều loài khác nhau, âm thanh của những thứ mà tai người thường không nghe được.
Tha tâm thông là cái hiểu biết về suy nghĩ, tâm tư của người khác, loài khác. Trong lòng bạn nghĩ gì, người đắc tha tâm thông hiển nhiên nghe được hết, như "đi guốc trong bụng".
Túc mạng thông là cái thấy biết về các tiền kiếp, các kiếp sống quá khứ của ta và người, loài khác.
Thần túc thông hay còn gọi là như ý thông, là cái được như ý, mọi thứ được theo ý mình, là sự biến hoá khôn lường, đi mây về gió, thăng thiên, độn thổ, đi trên mặt nước, đi trên hư không... Diệu dụng của thần túc thông khiến thân này hoặc mọi thứ đều vô ngại, không gì trở ngại, có thể đi xuyên qua cả lòng núi...
Lậu tận thông là cái thông thứ 6 quan trọng nhất mà đức Phật khuyên các đệ tử nên tu tập để đạt được nó. Đây là khả năng đoạn trừ cả thảy mọi phiền não, tập khí, tất cả các lậu hoặc, mọi nỗi khổ niềm đau nơi người tu tập sẽ được đoàn trừ để kiến tánh thành bậc đắc ngộ A la hán, chấm dứt luân hồi sinh tử, đạt được cái hạnh phúc vĩnh hằng, không gì có thể lay động. Năm loại thần thồng trước, người tu thiền có thể đắc được hoặc ngoại đạo cũng tu đắc lực mà thành tựu, chúng được gọi là thần thông thế tục, còn riêng lậu tận thông này được gọi là thần thông xuất thế mà người tu tập nên hướng đến.
Để đạt được thần thông như vậy, đức Phật từng dạy tu theo 4 đạo lộ "Tứ thần túc", khi xưa ngài A la hán Ma - ha - Mục - kiền - liên đã tu luyện theo 4 đạo lộ này và thành tựu được thần thông quảng đại, trong chúng để tử của Phật, ngài được Phật khen là thần thông đệ nhất Mục kiền liên. Ngài Mục kiền liên có khả năng đi mây về gió, dời núi lấp biển, một ngón chân của ngài dậm xuống cung trời Đao lợi khiến cả cung điện của vua Đế thích rung chuyển dữ dội như muốn sụp đổ, đủ để thấy sức thông lực của ngài cao siêu đến mức nào. Và ngài cũng là người nhập xuất vào Tứ thiền định nhanh nhất tronng chúng đệ tử của Phật thích ca.
![]() |
| Ảnh minh hoạ ngài Mục kiền liên tôn giả |
Tuy nó hiệu dụng là thế, thần thông có rất nhiều mặt trái và nguy hiểm vô cùng. Một người mà tâm chưa được thanh tịnh khi thi triển thần thông chỉ khiến cho chấp ngã trong ta tăng lên và cản trở rất lớn trên đường tu tập để đạt thành tựu.
Thử nghĩ xem nếu một người tâm chưa tịnh mà đắc được thần thông, họ sử dụng chúng vô những việc xấu ác khác thì còn ai có thể ngăn cản được họ. Khi xưa bà ngoài của tôi từng bị một thầy luyện các loại bùa ngãi, thư ếm, đã cúng pháp như thế nào mà khiến bụng ngoại tôi ngày càng phồng to ra và bên trong đó chứa rất nhiều dao lam và đinh sắt... Cũng may thời đó ngoại chưa tận mạng, gặp đúng quý nhân phù trợ, ông cũng là một vị thầy bùa pháp rất giỏi đã giải ngãi cho ngoại tôi, khi ấy ngoại đã ói ra một thau dao lam và đinh sắc,... chúng đã nằm lâu trong bụng và thật lạ lùng là ngoại không hề bị rách miệng do dao lam cứa. Những chuyện này rất khó thể nào giải thích.
Tuy nhiên thì không phải ai họ cũng hại được, mọi thứ đều do oan nghiệp từ đời trước sinh ra, tất cả đều do luật nhân quả vận hành, nếu không thì những người luyện pháp này đã hại hết tất cả người trên thế giới rồi. Khi bạn sống một đời thánh thiện, giúp ích cho đời, cho người, bạn chuyên tâm tu thân tích đức, tinh tấn giữ giới không sát sanh, tà dâm... Khi đó xung quang bạn sẽ có một từ trường rất mạnh bảo vệ bạn tránh khỏi những thứ bùa ngãi, chướng duyên đó.
Thế nên khi bạn sống với tâm từ bi, vị tha cực kỳ lớn, sự yêu thương đến tất cả muôn loài chúng sanh đủ lớn, khi đó bạn có được thần thông để giáo hoá chúng sanh đi khắp nơi cứu người là một điều gì đó thật tuyệt vời, còn nếu ngược lại thì đó là tai hại của xã hội này. Tôi được biết trong giới tu luyện các loại pháp thuật, bùa ngãi lỗ ban thì đa số con cháu của người tu luyện sống không đến 10 tuổi, ấy là do người luyện tâm địa bất chính, làm nhiều việc xấu, nghiệp lực chất cao như núi, sâu như biển rộng, trời đất không dung tha cũng ảnh hưởng ít nhiều đến con cháu. Trong giới luyện âm binh cũng không ít người cuối đời có cái chết không được an lành.
Tuy nhiên có một sự thật phũ phàng rằng, thần thông không thể chuyển hoá được nghiệp lực, sức mạnh thần thông có lớn và bất khả tư nghì đến đâu, thì nghiệp lực càng mạnh và bất khả tư nghì đến thế nữa. Thần thông cũng chưa chắc giúp ta được đủ đầy và hạnh phúc, một người có thể có rất nhiều thần thông, tuy nhiên họ vẫn rất khổ não, thần thông khôn giúp họ an lạc hơn. Thần thông vẫn không tránh được cái chết và mất đi, một người thần thông quảng đại mà chuyên làm chuyện ác thì sau khi chết vẫn bị đoạ là súc sanh, đoạ địa ngục là chuyện rất hiển nhiên.
Ngoài ra, nhiều người ham thích thần thông, thực tế là họ chưa dứt được phiền nào, tất cả sự ham muốn ấy là do tâm còn vô minh, chấp ngã và đầy sự tham cầu mà muốn có được. Thế nên điều quan trọng là không nên mong cầu một điều gì đó nơi thần thông, nghĩ rằng các loại năng lực đó giúp ta có cuộc sống hạnh phúc, đủ đầy là sai lầm, hạnh phúc hay không vẫn là ở nơi chính bản thân ta. Đức phật khi xưa cũng nghiêm cấm các đệ tử sử dụng thần thông bừa bãi.
Trong 10 tông phái của Phật giáo thời nay, thực tế là thời đức Phật không phân chia ra như vậy, thì có một tông phái có sức biểu hiện về các loại linh ứng, thần thông cảm ứng rất nhiều, hay còn nói nó mang tính cách siêu phàm nhất, đấy chính là mật tông. Người tu theo mật tông đến một lúc sẽ có một năng lực đặc biệt nào đó rất nhanh trong cuộc đời.
Theo như quan điểm của các vị chân tu, các ngoài bỏ qua mà không quan tâm, để ý đến thần thông, có những vị thiền sư đã đắc rất nhiều phép lạ nhưng họ không bao giờ sử dụng đến nó. Chuyện là khi xưa, trong thiền sử ghi chép lại câu chuyện của ngài Chế Công hoà thượng đã từng gặp một vị tu luyện bên Thiên Trúc sang, vị này có khả năng tha tâm thông, đọc được suy nghĩ của người khác. Ông tự đắc ý rằng ta là người tu tập đắc được thần thông khác người, nên có vẻ hơi kiêu ngạo. Khi ở trong cung vua Lương Võ Đế, người này biểu hiện rằng ta là người có thần thông, có thể đọc suy nghĩ người khác rất cao siêu. Ngài Chế Công hoà thượng liền được Lương Võ Đế mời đến, mời ngài ra tiếp chuyện với vị tăng Thiên Trúc kia. Ngài Chế Công liền hỏi vị tăng kia thì ông đáp tôi có khả năng đọc được tâm người khác, ngài Chế Công liền hướng tâm mình đến Trường An.
Ngài hỏi:
- Hiện giờ ngài biết tâm tôi đang ở đâu?
Sư thiên trúc đáp:
- Ngài là người tu tập mà tâm còn hướng đến trốn Trường An để vui chơi hay sao?
![]() |
| Ảnh tham khảo từ bài giảng "Phép lạ" của sư phụ Thích Chân Quang |
Ngài Chế Công liền hướng tâm đến một chốn nhộn nhịp, tấp nập và ồn ào
- Hiện giờ ngài thấy tâm tôi đang ở đâu?
- Ngài là vị tu hành mà sao lại nghĩ ngợi đến nơi ồn ào, ngài còn tham vui vậy sao, vui chơi tấp nập, người đông như vậy?
![]() |
| Ảnh tham khảo từ bài giảng "Phép lạ" của sư phụ Thích Chân Quang |
Sau 2 lần như vậy, lần thứ 3 ngài Chế Công liền nhập vào thiền định và an trú tâm tại đấy. Tâm lúc này trụ nơi bất động, hư không, không còn tướng, không còn thô xứ, tâm hoàn toàn vắng lặng, tịch tĩnh, thanh tịnh. Bấy giờ vị tăng thiên trúc kia có vẻ kinh sợ vì nhìn khắp nơi, khắp chốn đều không thể thấy được tâm của ngài Chế Công.
Ngài Chế Công liền quát:
- Này hồ ly tinh, tha tâm thông là gì?
![]() |
| Ảnh tham khảo từ bài giảng "Phép lạ" của sư phụ Thích Chân Quang |
Sau đó ngài tăng thiên trúc lập tức ngộ đạo ngay câu nói của ngài Chế Công.
Nói tóm lại khi ta tu tập cần hướng tâm đến giải thoát và giác ngộ, tuyệt đối không chấp vào thần thông, biến hoá. Sự thật trong cuộc đời này nhân quả và nghiệp báo quyết định đến hạnh phúc và khổ đau của con người, chỉ có chuyên tâm tu tập chân chánh thì mới chuyển hoá được nghiệp, các siêu năng lực là một sự cản trở lớn trên con đường tu tập khi tâm ta chưa dứt đoạn khổ đau mà đắc chúng quá sớm.
Chúc các quý bằng hữu tiến xa trên con đường tu tập và đi đúng đường, gặp đúng quý nhân phù trợ mà sớm đạt được sự viên mãn. Thân chào bạn.
Nguyện đem công đức này, hồi hướng đến tất cả đệ tử và chúng sanh đồng trọn thành phật đạo.
Tham khảo từ thầy Thích Phước Tiến, bài viết thần thông trong đạo phật.
Con xin cảm tạ công đức của thầy Thích Phước Tiến và thầy Thích Chân Quang, nhờ công đức 2 vị mà viết nên được bài này.






















0 Nhận xét:
Đăng nhận xét
Đăng ký Đăng Nhận xét [Atom]
<< Trang chủ