Chủ Nhật, 13 tháng 6, 2021

Sự khác nhau giữa chứng Tứ thiền định và Tứ thánh quả (góc Phật học chuyên sâu).

 Từ rất lâu hầu hết nhiều người nhầm lẫn giữa chứng thiền và chứng thánh, họ cứ nghĩ ai tu đắc về thiền định, có thể nhiếp tâm, nhập định rất lâu mà không cần ăn uống, có thể có thần thông là đã chứng thánh, đó là sự nhầm lẫn.

Ảnh minh hoạ thiền định

Thưa quý bằng hữu, bài viết này tôi xin gửi đến các bạn đã và chưa từng nghe qua về Tứ thiềnTứ thánh để các bạn cùng nhau đọc và tham khảo, cùng nhau nhận những kiến thức hay giúp nhau thay đổi cuộc sống trở nên hạnh phúc, tốt đẹp hơn. 

Trong "Trung bộ kinh" đức phật Thích Ca Mâu Ni đã nói người ta có thể chứng đến tứ thiền nhưng vẫn chưa chứng được thánh quả nào.

Ảnh minh hoạ bản ghi chép Trung bộ kinh cổ

Trong cuộc đời tu tập, chúng tôi đã bắt gặp những vị đắc được thiền định, có thần thông nhưng không lâu sau họ phát điên. Nghĩ cũng lạ nếu đắc thiền là đắc thánh thì người ấy vĩnh viễn sẽ không bao giờ phát điên. Vì với một vị đã chứng quả đầu tiên Sơ quả Tu đà hoàn trong tứ thánh quả thì tam ác đạo đóng lại vĩnh viễn. Không bị đoạ vào địa ngục, ngạ quỹ, súc sanh và không bao giờ bị tâm thần, điên loạn, họ luôn được sáng suốt. 

Có những vị đã đắc thiền, nói thiền ngữ như mây như gió, như sấm như chớp, thật sự sâu sắc, rồi sau đó cũng phát điên, quả là thật nguy hiểm khi chưa đắc thánh quả mà đã đắc thần thông.

Phật dạy trong pháp này có 4 quả thánh: Tu đà hoàn, Tư đà hàm, A na hàm A la hán.



Đồng thời có 4 tầng thiền: Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền Tứ thiền.

Một người ngoại đạo có thể tu đắc tới Tứ thiền vững vàng nhưng chưa chắc đã đắc được quả thánh nào. Chỉ có trong giáo pháp của đức Phật mới nói đến Tứ quả thánh, ngoài giáo pháp này người ta có thể chứng được thiền định cao siêu, vẫn không chứng được một phần nào của thánh này. Nếu ngoại đạo tu đắc lực có thể chứng thiền cõi trời, thậm chí là trời rất cao trong cõi vô sắc giới, không có hình hài, tâm thức hoà vào vũ trụ, an trú tại đó hàng tỷ năm và hưởng hết phước trời vẫn rớt xuống lại làm người.


Thế nhưng không thể phủ nhận thiền định chính là cốt lõi để ta đạt được sự viên mãn, trí tuệ và từ binh, hạnh phúc. Con đường tu luyện thiền định là thiên nan, không có thời gian cụ thể, tuỳ vào tuệ căn của từng người, không nên nghĩ đến sự vội vàng vì "dục tốc bất đạt". 


Những người tu đắc thiền định còn có thể nói là đắc đạo, như thiền sư Từ Đạo Hạnh từng nói khi ta tịch sẽ để lại nhục thân, ta còn phải trở lại cõi người, sau đó là đến cõi trời, khi nào trên cõi trời ta đạt đến sự viên mãn thành phật, đạt được sự Niết bàn thì thân này ở cõi trần sẽ hoại. 

Ảnh nhục thân bất hoại của một vị tu chứng

Vậy sự khác nhau giữa chứng thiền và chứng thánh:

Những người chứng thiền rất sâu, thậm chí đắc thần thông, trở thành tiên, chưa chắc đã là thánh, có khi họ còn bị thoái đoạ lại làm người, thậm chí thoái đoạ làm người điên loạn. Kinh lăng nghiêm từng nói, người tu thiền có thần thông rất dễ bị ma quỷ quấy phá, nếu đạo lực chưa đủ vững có thể sẽ phát điên, làm điều bậy bạ gây các ác nghiệp vẫn có thể bị đoạ và tam ác đạo.

Còn nếu khi đã chứng thánh rồi thì vĩnh viễn sẽ không bị phát điên và thoái đoạ. Một vị khi đã chứng từ nhị quả Tư đà hàm đến tứ quả A la hán thì thánh tính vị ấy hiển lộ rất rõ ràng, vị ấy có khí chất bất phàm, rất sáng suốt, sẽ hiện tướng anh tuấn của một người hảo hán, là một người đặc biệt phi thường, điềm đạm, hư vô. Còn sơ quả Tu đà hoàn rất khó để nhận ra, vì quả chứng này không yêu cầu phải đắc thiền định cao, họ chỉ cần đắc đến chánh niệm tỉnh giác, tâm sáng lên trong chánh niệm tỉnh giác và nhờ một nhân duyên nào đó phá được 3 kiết sử "thân kiến, giới cấm thủ và hoài nghi" vị ấy chứng Tu đà hoàn mà ta không hề hay biết. 


Vị chứng Sơ quả có thể trong hình thái của một người bình thường hoặc một vị tu sĩ hay cư sĩ tại gia, tuy nhiên, ánh sáng của trí tuệ Tu đà hoàn cứ rực cháy bên trong trái tim họ, họ là một con người đạo đức cao tột, là một người tâm từ thiện vị tha cực lớn. Chính vì chưa chứng thiền cao nên cử chỉ hành vi của họ vẫn còn rất giống người phàm, nhưng đạo đức, quan điểm thay đổi tận gốc rễ. 

Ảnh tham khảo từ phongthuyhomang.vn

Từ nhị quả đến tứ quả thì vị này một phần có thần thái ung dung tự tại của một vị chứng thiền vừa có đạo đức cao tột, từ bi và trí tuệ của ngọn lửa thánh, vì này nhìn vào là biết không phải người thường mặc dầu được sinh ra bằng xương bằng thịt. Vị tam quả A nam hàm phải tối thiểu chứng đến sơ thiền và cao nhất là tam thiền, còn vị A la hán thì tứ thiền là điều kiện tối thiểu cần có để xác nhận sự chứng đạt.

A la hán Ma-ha-Ca-Diếp

 Người chứng thánh buộc phải có mức thiền định tương ưng, còn người chứng thiền cao tột chưa chắc đã chứng thánh quả nào. Thuở xưa, trong pháp hội của ngài Hương Nghiêm Trí Nhàn giảng pháp, tại đó cũng có một vị đắc thiền đạo là ngài Sơ Sơn mới phản đối đạo lý của Hương Nghiêm Trí Nhàn, ngài liền bảo Sơ Sơn nếu ông có ý kiến gì thì hãy nói ra đi. Ngài Sơ Sơn bảo, nêu muốn tôi nói thì ngài hạy trả nghĩa thầy trò, ngài Hương Nghiêm liền xuống lạy Sơ Sơn 3 lạy. Ông kia liền trình bày đạo lý, ngài Hương Nghiêm liền biết là ông chỉ mới chứng thiền chưa chứng thánh. Hương Nghiêm Trí Nhàn liền thọ ký nếu ông nói như vậy thì 30 năm ông ở rừng không có củi đốt, ở suối không có nước uống, và ăn vô bao nhiêu ói ra bấy nhiêu. Quả thực, ngài Sơ Sơn đã bị như vậy 30 năm sau mới hết nghiệp này. 

Vì chứng thiền nhưng chưa chứng thánh, trí tuệ chưa đủ thì kiến giải vẫn còn sai, chưa đúng hoàn toàn. Dấu hiệu của một người chứng thiền là tinh tấn tu tập thiền định dù cho chân đau, nhức mỏi nhưng vẫn không nản và bỏ ngày nào. Người này trong quá khứ đã từng có công đức gì đó rồi, đã gieo duyên thiền trong kiếp trước. Một người có thể tu thiền trong 10 năm, 20 năm, 30 năm, thậm chí là hết đời này vẫn có thể chưa chứng đến nổi sơ thiền, nếu vị ấy có một đời sống tốt đẹp, thánh thiện thì vẫn có thể chứng được chánh niệm tỉnh giác. 

Tuy nhiên, còn có những vị đại tuệ căn, đã từng tu thiền trong nhiều đời, đời này quay lại tu chỉ mất 1 đến 2 năm đã có thể chứng được một mức nào đó của thiền định, đó là còn tuỳ căn cơ mỗi người. Trong giai đoạn chánh niệm tỉnh giác vẫn có cơ hội chứng được Sơ quả Tu đà hoàn. 

Vị đã chứng thiền sẽ có biểu hiện tự tại, rất thong dong, thanh thản, trầm lắng, thường nói đạo lý tự tại, buông bỏ, không chấp, nói cái gì cũng không, không còn bị vướng bận chuyện thế gian nhiều. Vị này rất có thể đã chứng mức nào đó của thiền định. 

Ảnh minh hoạ Lão Tử

Biểu hiện thứ 2 của người chứng thiền là họ có thần thông, có thần thông từ thấp đến cao, từ ít đến nhiều. Thấp như có thể đoán được tâm người khác như "đi guốc trong bụng", có khả năng nghe được âm thanh của cõi giới khác hoặc các loài sinh vật hoặc có khả năng nhìn biết được ở khoảng cách rất xa, không còn bị giới hạn như người thường, ngoài ra có thể đoán được cuộc đời của người khác, vận số của bản thân, biết trước tương lai có thể nhiều có thể ít tuỳ vào khả năng từng người. Nhìn tướng một người có thể biết được bản chất họ tốt bao nhiêu phần, xấu bao nhiêu phần, cuộc đời tốt đẹp hay khổ sở. Còn những vị có thần thông lớn thì có khả năng như ngồi kiết già bay lên không trung hoặc đi xuyên qua cả núi, di chuyển một cách vô ngại không gì cản trở, trên thế giới có một tỉ lệ hiếm người bẩm sinh đã có khả năng đó nhưng mai một theo thời gian, tuy nhiên không phải là không có. Trong lịch sử đã từng ghi chép lại rất nhiều người có những khả năng này, đó là những bí mật được ghi chép và cất giữ sâu trong kho tàng những bộ sách ẩn dưới lòng núi của dãy Himalaya, điển hình còn có những bút tích văn tự cổ như chữ ký của Phật Thích ca mâu ni khi ngài còn là thái tử trong cung.


Biểu hiện thứ 3 của người chứng thiền là kiến giải vô ngại, người này nói kinh, nói điển hay đối đáp thiền ngữ cực kỳ lưu loát, nhanh nhẹn, chớp nhoáng nhưng cực kỳ sâu sắc, nói rất khó bị vấp và người thường sẽ không bao giờ đối đáp thắng được người chứng thiền. Tương tự như ngụ ý trong "Đạo đức kinh" của Lão Tử, ngày câu đầu tiền đã cực kỳ khó hiểu như " đạo khả đạo phi thường đạo, danh khả danh phi thường danh" ẩn chứa các thiền ý sâu xa trong đó, nếu quý bằng hữu đọc qua mà hiểu hết ý nghĩa, tôi xin nể phục vì bạn đã đắc thiền rồi. 

Biểu hiện thứ 4 là tịch tự tại, làm chủ được cái chết, muốn chết khi nào thì chết. Có rất nhiều người biết trước được giò chết của mình, đấy chỉ là chuyện nhỏ, đằng này là có khả năng chết bất cứ lúc nào. Chuyện là có một vị đã chứng thiền, có thể ngồi thiền, nhập định 1 tuần không ăn uống, sau khi xuất định lên ghế ngồi nhập tịch và thiêu ra rất nhiều hạt xá lợi mà chỉ có ở người đắc đạo. Xưa kia thiền sư Đặng Ẩn Phong sau khi nhập tịch cũng tịch ngược đầu xuống dưới đất, chân hướng lên trời, y phục nguyên vẹn như lúc đứng, không ai lay chuyển nổi, mãi đến khi người em gái của ngài đến thì thân ngày mới rớt xuống để người ta an tán.

Dù cao siêu như vậy, khi chứng thiền mà lầm tưởng mình đã chứng thánh thì khi hưởng hết phước thiền rất dễ trở nên là một con người bình thường, thậm chí còn tệ hơn cả người tầm thường. Đó cũng là mặt trái khi người tu thiền đắc được thần thông và sự lầm tưởng mình đã chứng thánh, họ có thể ngồi thiền phát hào quang trong ban đêm, nhưng hết phước thiền lại thoái thất làm người tâm thần bất định. 

Bây giờ ta nói đến biểu hiện của một vị chứng thánh. Xưa kia Phật Thích ca mâu ni đã đưa ra 10 kiết sử tức là 10 tiêu chuẩn của đạo đức nhằm đưa ra để đánh giá chứng quả nào trong 4 quả thánh.

Để một người chứng được Sơ quả Tu đà hoàn thì phải phá được 3 kiết sử là những cái xấu mà bất cứ chúng sanh, phàm nhân nào cũng có là "thân kiến, giới cấm thủ và hoài nghi". Thân kiến tức là ích kỷ xét theo ngôn ngữ thời ấy, hoài nghi là sự nghi hoặc về phật pháp và lòng tin không đủ vững mạnh còn giới cấm thủ là sự chấp vào nguyên tắc, bị ràng buộc bởi quy định, luật lệ. 

Một vị đã chứng Tu đà hoàn hiển nhiện đã phá tận gốc 3 kiết sử này, vì phá thân kiến nên họ biểu hiện ra là 1 người sống cực kỳ vị tha, không sống cho riêng mình, ở đây cái vị tha chưa phải là vô ngã tuyệt đối như một vị đã chứng tới Tứ quả A la hán nhưng mà họ sống tâm rất là thiện lành và quân tử, sống vì đời. Mỗi lần làm điều gì cho cá nhân mình họ có thể sẽ hổ thẹn, ở cuộc sống này có tỉ lệ ít vị đã chứng Tu đà hoàn mà ta không hề biết. Những vị thánh trong cuộc đời này thường là những vị chuyên đi bố thí, cúng dường, sống chỉ lo cho con người, lo cho chúng sanh, lòng từ bi cực kỳ lớn, không dám sát sanh hại vật vì ở họ là một tình thương rất cao siêu và vi diệu. Thời nay rất nhiều người chuyên đi làm việc thiện như xây dựng các nhà tình nghĩa, chuyên đi ủng hộ đồng bào miền khó khăn khắp cả nước, những người xây dựng và nuôi dưỡng các trẻ mồ côi, họ làm mải mê mà không hề biết mệt, họ làm làm với tất cả tâm thiện lành và không mong cầu bất cứ sự lợi, ích kỷ nào cho họ, những người này không chừng đã chứng thánh hoặc tiến rất gần đến quả thánh.

Một người chứng thiền có thể ở yên trong núi, nơi hoang vắng, hoặc không muốn tiếp xúc với ai. Họ ngồi thiền suốt ngày, đắc thần thông, được người đời gọi là tiên, an trú và hành phúc trong cảnh thiền, và không vướng mắc cuộc đời Nhưng người đã chứng thành thì họ lại muốn đi khắp nơi để làm từ thiện, đắp đường cho người đi, làm nhiều việc có lợi ích cho xã hội, làm đẹp cuộc đời từ việc nhỏ nhặt nhất đến việc vĩ đại nhất.


Biểu hiện nữa của vị chứng Sơ quả là phá được cái hoài nghi, tức là niềm tin và ý tưởng tu hành của họ cứng như đá, không ai có thể làm lung lay, xoay chuyển được niềm tin đó, đối với Phật pháp họ tin tuyệt đối, lập trình hướng về sự giác ngộ, giải thoát là không ai thay đổi được.

Một điều nữa là vị thánh này phá được giới cấm thủ, họ rất tôn trọng luật lệ, nhưng khi cần có thể phá liền, vượt qua mọi sự chấp nguyên tắc, khi tâm còn ràng buộc bởi chứ cố chấp vào nguyên tắc sẽ không thể chứng sơ quả. Phá được giới cấm thủ cũng không có nghĩa là ta buông thả mọi sự, không có nghĩa là phóng túng, không giữ gìn giới hạnh vì hiểu như vậy là hiểu sai. Nên hiểu đó là một thái độ minh triết, xem các giới luật là một phương tiện, phương pháp tốt để tôi luyện bản thân, nhưng không quá mù quán, quá lệ thuộc vào giáo điều. Con đường Phật dạy luôn là trung đạo không quá nghiêng về phía 1 bên, không nên quá cố chấp vào giới cấm, đồng thời cũng không nên quá buông thả nó, ta phải tuỳ duyên mà ứng hiện. Giới cấm uống rượu đối với những người ở các xứ hàn và ôn đới, khí hậu có tháng rất rét, cũng cần châm chước. Cho nên ở Nhật, đối với người tu tại gia, giới cấm uống rượu đổi thành giới cấm buôn bán rượu, nhưng uống rượu vẫn được miễn là không say và không ảnh hưởng đến mọi người. 

Tất cả những gì nguyên tắc xem chừng cũng chỉ là tạm bợ, con người lập ra được thì con người bỏ được, tất cả mọi nguyên tắc thế gian cũng vậy, chi có chân lý là người ta không thể sửa, người đã chứng thánh thì họ vượt khỏi sự chấp nguyên tắc, biết khi nào nên giữ và biết khi nào nên bỏ đến sống cuộc đời hạnh phúc và ít lỗi lầm. Người chứng Sơ quả cũng không buộc phải chứng thiền.

Người sống cực kỳ tinh tế, sâu sắc trong việc đối xử, ưu ái với con người, quan tâm đến con người là biểu hiện của Sơ quả thánh, còn người sống ung dung tự tại, mặc kệ sự đời, ai nói gì tâm không xao động, không vướng vào cuộc đời là người biểu hiện của chứng thiền, ta nên phân biệt vậy.

Còn những người đã chứng thánh vị cao, họ có cả 2 điều trên. Vừa tự tại, thong dong, tâm bất biến giữa dòng đời vạn biến, đồng thời vừa có một lòng từ bi cao thượng và cực kỳ đạo đức, trí tuệ, họ luôn tinh tế, sâu sắc, ân cần với con người. 

Ta nói đến Nhị quả Tư đà hàm, vị này là bậc tiến hoá tiếp theo của Sơ quả, không những có tất cả yếu tố của Sơ quả Tu đà hoàn trên, mà họ còn làm mỏng nhạt được 2 kiết sử là "tham lam" và "sân hận". Việc này không hề dễ dàng chút nào, tham ở đây là bất cứ việc gì như tham sự đẹp đẽ, tham danh tiếng, tham tiền của, tham về sức khoẻ cũng đều là tham, đôi khi có những cái tham rất nhỏ mà ta không đủ tinh tế để nhận thấy, chúng tiềm ẩn mãi trong tâm chúng ta và rất khó phá được. Tuy nhiên người chứng Tư đà hàm, cái "sân hận" của họ được làm mỏng đi, nó chỉ còn một phần nhỏ vi tế trong tâm mà đến cả người đó còn nhận không ra, ngoài trừ những vị chứng cao hơn. Chưa phá tận gốc "sân hận" là thế nhưng không một ai có thể khơi lên nổi cái sân của họ. Ta có thể chửi bới, lăng mạ, đánh đập, chọc giận, thậm chí là giết người đó, một chút sân trong họ vẫn không nổi lên, họ điềm nhiên, tĩnh lặng. Về mức thiền định, người này ở giai đoạn cuối của chánh niệm tỉnh giác, họ có thể có một số thần thông, cảm ứng như biết được giờ chết hoặc có được con mắt thứ 3, người này trực giác cực kỳ mạnh.


Khi mà đủ nhân duyên phá được cả 2 kiết sử đã làm mỏng nhạt trên là sân và tham họ trở nên cực kỳ thanh tịnh và tịch tĩnh, họ là người đạo đức tuyệt đối ở thế gian này, không còn cái đạo đức nào ở cõi người vượt qua và ràng buộc được họ. Họ đã chứng Tam quả A na hàm, chính vì cắt được 2 kiết sử đó thêm 3 kiết sử của Sơ quả họ đã cắt được cái duyên với cõi dục giới này, Phật gọi vị này là Bất lai, tức là không trở lại cõi người này 1 lần nào nữa trừ khi họ phát nguyện quay lại độ chúng sanh, cứu giúp cho đời. Vì vị Tư đà hàm còn một xíu tham với sân nên phải Nhất lai, trở lại đời này trong một kiếp nữa mới chứng quả A na hàm. 

Vị A na hàm đắc được "Thần túc thông" là một trong "lục thông thanh tịnh", vị này có khả năng đặc biệt về thân, có thể làm chủ cái thân, khiến thân biến to nhỏ, bay trên hư không, đi xuyên qua núi... Vị A na hàm nếu chứng ở cõi người sau khi chết được hoá sanh làm thân chư thiên tại cõi trời sắc giới từ Sơ thiền đến Tam thiền. Năng lực này của họ là nhờ vào định lực của chính mình nhờ tu tập, không thông qua sự vay mượn hoặc tha lực từ bên ngoài. Những vị này cực kỳ siêu việt, cõi người hiếm có, nếu có cũng gọi là siêu nhân. Họ được vị như tấm gương trong, bất cứ thứ gì đến trước mặt gương sẽ hiện lên thứ đó, cho nên bất cứ ai đến gần vị A na hàm, bao nhiêu tâm tư, suy nghĩ, bản chất bộc lộ ra hết, không qua mặt được ngài. 

Còn quả vị A la hán thì cực kỳ cao siêu, còn siêu việt hơn vị A na hàm gần nhiều lần, nếu ta dùng cả cuộc đời để ca ngợi về họ cũng không sao nói hết. Chỗ này rất tinh tế mà chỉ có Như lai mới thấy được, ngoài Phật và vị Bồ tát không ai cố thể biết được cái mức độ cao siêu này, tuy đã phá hoàn toàn 5 hạ phần kiết sử trên, đạo đức tuyệt đối ở cõi người nhưng Phật vẫn còn nhìn thấy một sự chưa hoàn hảo của vị Tam quả, so với xuất thế gian nơi A na hàm còn hẳn 5 thượng phần kiết sử chưa phá được. Nói đến đây ta mới thấy Phật quả thật là một vị trí tuệ siêu việt, bất khả tư nghì mà ta không thể không cảm phục ngài.


Vị A na hàm thứ nhất vẫn còn sắc ái tức là yêu thích và chấp vào cõi trời sắc giới mà chính họ không nhận ra họ đã sai chỗ đó, khi các ngài sinh lên đó, cõi trời quá vi diệu, nên tâm các vị có luyến ái bí mật và cực kỳ vi tế nên các ngài không biết, nơi đó quá hạnh phúc và thù thắng, muốn gì có nấy, khí hậu ôn hoà, thuận lời, tất cả mọi điều đều như ý, cực kỳ vi diệu. Cái kiết sử thứ 2 là vô sắc ái, ở cõi này là mức độ cao hơn cõi sắc giới, mọi sự an lạc và hạnh phúc đều hơn hẳn cả cõi sắc giới, dù có thể vượt qua được sắc ái, chưa hẳn qua nổi vô sắc ái, nên còn vướng chấp chưa thành A la hán được. Cái tiếp theo của họ là Ngã mạn, tức là kiêu ngạo, tâm còn chút kiêu ngạo nhỏ, vẫn thấy mình hơn chúng sanh, điều này ta thấy thật lạ lùng vì đạo đức của nhỏ cực kỳ trong trắng như băng như tuyết mà vẫn vậy, nên đây cũng là một cái chưa viên mãn của các ngài, điều này chỉ có Phật nhận ra được. 

Kiết sử thượng phần thứ 4 là trạo cử tức là tâm và thân họ vẫn còn sự dao dộng cực kỳ vi tế và nhỏ, các ngài nghĩ rằng họ đã hết trạo cử nhưng không chúng còn một phần cực nhỏ mà không dễ nhận ra được, vì vị A na hàm chưa chứng được thiền định vững vàng(tức là Tứ thiền) nên ngồi thiền vẫn có trạo cử vi tế là thế. Cái cuối cùng là vô minh vi tế - kiết sử cuối cùng cần phá nơi vị A na hàm để được viên mãn chứng A la hán trở thành Phật. Điều này trí tuệ con người luận bàn không nổi vì chỉ khi nào chứng được Tứ thánh ta mới thoát sạch vô minh và khi nhìn lại mới hiểu được, à thì ra vô minh vi tế là như vậy. Trí tuệ một vị Tam quả đạt đến cực kỳ siêu việt nhưng vẫn còn vô minh vi tế, ta có thể hiểu là trí tuệ họ chưa được 100% viên mãn mà chỉ mới 95%, nơi vị thánh siêu việt này còn thế thì nói gì đến con người chúng ta, ta sống một cuộc đời rất vô minh và không sáng suốt, cái vô minh của phàm phu cực kỳ thô thiển, nhìn vào là nhận thấy ngay. 

Và vô minh cũng chính là ngọn ngành của mọi nỗi khổ niềm đau kéo ta lăn trôi mãi trong luân hồi sinh tử mà không thoát ra được, vô minh khiến ta tạo ra rất nhiều ác nghiệp, chỉ khi nào cố gắng tu tập và làm nhiều việc tốt, làm nhiều việc thiền, sống đời dạo đức vị tha thì từ đó vô minh dần phai nhạt đi và một ngày nào đó ta sẽ đạt được trạng thái hạnh phúc tuyệt đối siêu việt, đạt đến sự giác ngộ giải thoát.

Vị A la hán cuối cùng đã chứng được và phá trọn 10 kiết sử, gồm 5 hạ phần và 5 thượng phần như trên, ngài đã đạt được niết bàn, và được gọi là một vị Thanh Văn Phật hoặc Độc Giác Phật. Vị này hoàn toàn hoàn hảo và viên mãn, ngài chứng được Tam minh và Lục thông, không một vị đế nhân thiên tử nào có thể bắt được một lỗi nhỏ nhất nơi vị A la hán.  


Thiền định người tu có thể chứng rất cao, phước họ rất lớn mới chứng thiền, tuy nhiên khi hết phước sẽ bị thoái thất, phước ta có lớn đến đâu khi sử dụng sẽ hết dần và nếu không biết cúng dường, bố thí tăng trưởng phước báu thì đến một lúc nào đó sẽ cạn kiệt. Phước có hai loại : phước thế gian là mọi việc làm tốt cho đời cho người nơi thế gian như bố thí, đắp đường, cứu người... nhưng họ không hướng đến tâm linh thì sau này sẽ được quả báo giàu sang, phú quý, mạnh khoẻ, sinh ra đã ở vạch đích và một loại phước nữa gọi là phước xuất thế gian là người tạo nhiều phước báu nhưng tâm hướng đến cái cao cả hơn, hướng đến tâm linh mà không mong cầu sự lạc thú thế gian, người ấy chứng đắc và an trú hạnh phúc trong cảnh thiền, họ có nhiều thần thông cảm ơn. Nhưng mọi điều như thế vốn vô thường, đến một lúc sẽ hết, thiền tự xuất, tâm loạn trở lại, mất đi thần thông, định lực, giàu sang phú quý chết không mang theo, hưởng hết phước sẽ nghèo nàn trở lại. Quý bạn nếu cuộc đời gặp ai đó có khả năng đặc biệt, như có một số thần thông nào đó, đừng vội bái làm sư vì họ chưa chắc đã chứng thánh, không chừng bạn bái nhầm một ông thầy tà, từ đó duyên chứng thánh bạn bị cắt lủng đoạn. 


Chỉ có đức của một vị thánh mới theo ta mãi mãi, trôi lăn trong luân hồi sinh tử và ngọn lửa thánh cháy loe loét mãi trong trái tim, đầy sự từ bi, dĩ quý và trí tuệ. Ngọn lửa thánh ấy giúp thần thức ta được sáng suốt khi ta chết, thần thức sẽ không bị đoạ vào 3 đường ác, sẽ không bị nghiệp lực dẫn dắt đi lung tung, người đã chứng thánh khi lỡ phạm tội nghiệp nào đó sẽ trả lại quả báu ở cõi người, mãi mãi không bị đoạ. 

Tuỳ theo cách bạn gieo phước, để chứng thiền thì bạn gieo phước giúp đời, giúp người, làm đẹp cuộc đời, bố thí, quyên góp từ thiện... và cố gắng ngồi thiền sẽ chứng nhanh. Còn chứng thánh thì gieo phước tương tự chứng thiền, nhưng ngoài điều đó còn phải làm nhưng việc hơn nữa là phải tôn kính Phật, Pháp, Tăng tuyệt đối, thứ 2 là hình dung vào hướng về vô ngã, tâm còn chấp ngã và mơ ước một ngày chứng đạt vô ngã phá tan đi bản ngã, đấy chính là gieo nhân chứng thánh. 


Vì vậy nên quý bằng hữu ạ, ta sống đừng quá ích kỷ bản thân ta, chăm chuốt bản thân 1 phần nào đó đủ thôi, rồi hãy đi làm nhiều việc thiện lành để gieo hạt giống bồ đề, giống phước tốt trong tâm, đến một ngày nào đó hạt giống sẽ nở thành một cây với hàng trăm trái ngon. Bạn hãy cố gắng giúp ai được việc gì thì giúp, bất cứ việc nhỏ nhặt giúp làm đẹp cuộc đời cũng có thể tạo ra phước, sống hãy biết ơn mọi thứ xung quanh thì từ đó cái nhìn cuộc bạn về cuộc đời cũng trở nên tốt đẹp hơn, hạnh phúc và sâu sắc hơn. Cơ hội làm phước luôn ở xung quanh ta, chỉ có điều không đủ tinh tế để nhận ra. Một việc nhỏ nhặt như nhặt một ít rác rơi trên đường đi bỏ thùng rác với tâm cực kỳ vui vẻ, với tâm hướng đến sự làm cho môi trường sạch đẹp, cho mọi người xung quanh thoải mái, không bị làm xấu ngoại cảnh, nhiêu đó thôi phước cũng đã không tầm thường rồi bằng hữu ạ, những ai làm được như vậy coi bộ không hề dễ mà hễ làm được thì tương lai sau này cực kỳ hạnh phúc, hãy cố cày phước từng ngày từng giờ nhé. Thân!

Các bạn đọc bài viết này thấy hay thì hãy chia sẻ những điều này đến mọi người xung quanh nhé. 

Nguyện đem công đức này hồi hướng đến tất cả đệ tử và chúng sanh đồng trọn thành Phật đạo.

Trích bài giảng pháp của sư phụ TT. Thích Chân Quang. 




0 Nhận xét:

Đăng nhận xét

Đăng ký Đăng Nhận xét [Atom]

<< Trang chủ